Tin Tức

VÌ SAO CẦN PHẢI THAY DẦU NHỚT

Ngày Đăng : 14/06/2017 - 2:08 PM
Nguyên nhân nào khiến dầu nhớt bị mất các tính chất của nó?

Nguyên nhân nào khiến dầu nhớt bị mất các tính chất của nó?

Các yêu cầu cơ bản đặc ra với tính chất sử dụng của dầu là: dầu khoáng cần phải có tính chất bôi trơn tốt, đảm bảo được bôi trơn lỏng hoàn toàn và độ bền đáng tin cậy của màng dầu trong mọi ổ ma sát của các cơ cấu máy trong dải vận tốc, nhiệt độ, cũng như tải trọng lớn. Sự bảo toàn màng dầu trên bề mặt là cần thiết để khắc phục tình trạng ma sát bán khô gây mài mòn và phá hủy chi tiết máy. Dầu nhờn cũng phải bền về mặt hóa học để chống lại sự oxi hóa bởi oxi trong không khí, trong các điều kiện nhiệt độ cao cũng như không thay đổi tính chất của mình trong quá trình vận chuyển và bảo quản.

1. Sự oxi hóa

Khi làm việc trong các động cơ, máy móc và các thiết bị khác, khi bảo quản trong kho cũng như khi vận chuyển dầu đều tiếp xúc với oxi của không khí. Sự tiếp xúc này là nguyên nhân chủ yếu gây nên sự biến đổi về mặt hóa học của dầu, đó gọi là quá trình oxi hóa.
Trong quá trình oxi hóa, các tính chất lý hóa học của dầu sẽ bị thay đổi. Theo qui luật, sự thay đổi này dẫn đến sự giảm sút các chỉ tiêu chất lượng của dầu nhờn. Nếu sự oxi hóa xảy ra ở mức độ đủ sâu thì có thể phải loại bỏ dầu nhờn khỏi hệ thống bôi trơn của máy móc và thay dầu nhờn mới.

Sản phẩm của quá trình oxi hóa sâu và ngưng tụ là các axit chứa oxy, axit asphantogen, các asphanten, các cacben, các hợp chất cacboit. Các chất này, khác với nhựa và axit, nó không tan trong dầu. Chúng tạo hệ keo hoặc ngưng tụ thành cặn trong dầu. Dầu trong quá trình chịu tác động lâu dài của ánh sáng, cùng với sự xâm nhập của không khí sẽ làm sẫm màu dầu, do lúc này trong dầu tạo ra các chất nhựa và các chất khác. Trong tối hoặc ngoài ánh sáng phân tán, quá trình oxi hóa xảy ra với tốc độ chậm hơn khá nhiều.

 

2. Sự nhiễm bẩn của các tạp chất
Các hạt kim loại có lẫn trong dầu do sự mài mòn của các bề mặt kim loại của các chi tiết, hay các tạp chất như là bụi, cát trong không khí rơi vào dầu trong quá trình sử dụng và tích lũy lại trong dầu. Các tạp chất này gây ra sự mài mòn lớn cho các bề mặt của chi tiết trong quá trình làm việc. Đối với các máy móc, thiết bị làm việc trong môi trường nhiều bụi thì hàm lượng tạp chất này rất lớn, thậm chí đến vài phần trăm.

 

Trong quá trình làm việc của dầu thì dầu còn bị nhiễm nước, nguyên nhân là do nước có từ không khí xung quanh, từ các sản phẩm cháy của nhiên liệu, và do cả sự không kín của hệ thống làm mát động cơ. Nước nằm trong dầu ở dạng hòa tan hoặc dạng nhủ tương, tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể mà nó có thể chuyển từ dạng này sang dạng khác.
Tóm lại, trong quá trình dầu làm việc thì dầu luôn luôn bị nhiễm bẩn bởi các tạp chất cơ học và nước.


3. Sự làm loãng bởi nhiên liệu
Đối với các động cơ đốt trong, dầu nhờn không chỉ có vai trò bôi trơn, tản nhiệt mà chúng còn có tác dụng làm kín, khít các khe hở không cho các khí cháy từ xylanh lọt xuống cacte bằng một lớp màng dầu mỏng ở thành xylanh. Khi nhiên liệu được đưa vào xylanh của động cơ thì chúng được tạo thành hạt gồm không khí, hơi và các giọt dạng sương mù của nhiên liệu. Các hạt nhiên liệu này có thể đọng ở trên thành xylanh và có thể trộn lẫn với dầu nhờn. Ngoài ra, trong giai đoạn đầu của quá trình làm việc, đặc biệt là khi động cơ khởi động, hơi nhiên liệu có thể ngưng tụ lại trong bề mặt của xylanh và sẽ chảy xuống pha loãng dầu.
Thông thường, dầu nhờn hàng không đã sử dụng thì lượng nhiên liệu có thể bị lẫn vào là khoảng từ 2 - 3%, còn trong dầu ôtô đã sử dụng thì chứa khoảng 3 -7%. Như vậy, loại nhiên liệu sử dụng có thành phần cất càng nặng, tức là nhiệt độ sôi càng cao, thì nó càng bay hơi chậm hơn, ngưng tụ dễ dàng hơn và sự pha loãng dầu càng mạnh hơn.
Sự lẫn nhiên liệu vào trong dầu nhờn dẫn đến việc làm giảm nhiệt độ bắt cháy và độ nhớt của dầu nhờn.

Sử dụng dầu nhờn chất lượng cao giúp kéo dài tuổi thọ thiết bị

Sử dụng dầu nhờn chất lượng cao giúp kéo dài tuổi thọ thiết bị


4. Sự phân hủy bởi nhiệt
Khi dầu tiếp xúc với các phân tử nhiệt độ cao của máy móc thì xảy ra sự phân hủy nhiệt, cracking. Kết quả của quá trình này là tạo ra các sản phẩm nhẹ dễ bay hơi cùng với các cấu tử nặng. Ngoài ra, dầu còn chịu sự đốt nóng cục bộ khá lớn. Xu hướng dầu khoáng đối với sự phân hủy nhiệt phụ thuộc trước hết là vào thành phần hydrocacbon trong nó. Các hydrocacbon trong dầu mà có cấu trúc càng phức tạp, mạch càng dài thì nó càng dễ dàng bị phân hủy dưới tác dụng của nhiệt độ cao.


Tốc độ phân hủy của các hydrocacbon tăng lên cùng với sự tăng nhiệt độ và trong một khoảng nhiệt độ xác định nào đó (ví dụ 400 - 450oC) thì tốc độ phân hủy của dầu tăng theo định luật Vanhoff. Theo qui luật này khi nhiệt độ tăng lên 10oC thì tốc độ phân hủy sẽ tăng lên khoảng 2 lần. Một số các kim loại như Cu, Zn làm giảm một cách đáng kể nhiệt độ phân hủy của hydrocacbon bởi vì nó thể hiện vai trò xúc tác trong quá trình này

Nguồn: Sưu Tầm

Các tin khác